4 Phương Pháp Hô Hấp Nhân Tạo Phổ Biến Nhất Trên Thế Giới

Hô hấp nhân tạo là hoạt động sơ cấp cứu cấp thiết, giúp nạn nhân phục hồi hơi thở khi gặp tai nạn đuối nước. Là công việc phải thực hiện ngay khi cứu được nạn nhân, không được chậm trễ, nhưng cần thực hiện chính xác, đúng quy trình.

Trong nhiều trường hợp, mặc dù nạn nhân tuy đã được cứu ra khỏi nước, nhưng vẫn bị thiệt mạng, chủ yếu là do một trong hai nguyên nhân sau:

  1. Nạn nhân uống nước quá nhiều hoặc ngưng thở quá lâu nhưng không được hồi sức cấp cứu kịp thời;
  2. Người cứu hộ xử lý quá chậm hoặc xử lý không đúng các thao tác kỹ thuật hồi sức để tái lập lại sự sống.

Cần nhớ, thời gian và tốc độ xử lý cấp cứu người chết đuối phải được tính từng phút, vì vậy cần thao tác chính xác, đúng quy trình và tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Người cứu hộ phải hết sức khấn trương cấp cứu và hồi phục nạn nhân trong khoảng 5-7 phút (kể từ lúc nạn nhân ngưng thở) bằngcác phương pháp HÔ HẤP NHÂN TẠO phù hợp.
  • Có nhiều cách hô hấp nhân tạo, nhưng không cần phải thực hiện tất cả. Chỉ nên chọn một phương pháp nào mà ta cảm thấy là đưa đến hiệu quả cao nhất và phù hợp nhất.
  • Đôi khi ta còn phải hô hấp nhân tạo ngay khi tiếp xúc với nạn nhân giữa dòng nước, kẻo nếu không, khi kéo được nạn nhân vào đên bờ thì đã muộn.
  • Việc đầu tiên phải làm để hồi sức là xốc nước nhanh cho nạn nhân (không quá 10s) bằng cách để cả người nạn nhân vắt qua vai người cứu hộ (phần bụng của nạn nhân đè lên vai người cứu hộ). Nên kết hợp vừa xốc nước vừa chạy tới chỗ bằng phẳng để đặt nạn nhân nằm xuống. (Ví dụ ở biển, nếu đã dìu được nạn nhân vào đến chỗ nước nông ngang đầu gối là vác ngay nạn nhân lên vai để vừa xốc nước vừa chạy tiếp lên đến bờ)
  • Tiếp đó là nới rộng hay cởi bỏ áo để tránh làm nghẹt cơ quan hô hấp; cạy miệng nạn nhân, dùng tay hay khăn sạch móc hết đờm dãi và những mọi thứ cản trở hô hấp trong miệng, rồi tiến hành hô hấp nhân tạo.

hô hấp nhân tạo

Xốc nước cho nạn nhân trước khi thực hành hô hấp nhân tạo

Phương pháp hô hấp nhân tạo Sylvester

Phương pháp này do ông Sylvester tìm ra, được sử dụng rộng rãi vào năm 1856.

Cách thực hành hô hấp nhân tạo Sylvester:

  1. Thở ra

Đặt 2 cánh tay của nạn nhân gập lại đặt lên trên giữa ngực. Người cứu hộ nhấn mạnh thật thẳng xuống xương sườn để ép phổi tống không khí ra ngoài.

  1. Hít vào

Người cứu hộ ngả người ra sau đến khi mông ngồi lên gót chân, đồng thời kéo bẹt 2 tay nạn nhân ra cho đến khi chấm đất. Động tác này nâng cao các xương sườn lên, làm cho không khí đi vào phổi. Làm khoảng từ 15 đến 20 lần trong một phút.

Lưu ý: Phương pháp hô hấp nhân tạo này này áp dụng cho các bà đang có bầu hay người đang bị vết thương nơi bụng.

hô hấp nhân tạo

Cách hô hấp nhân tạo theo phương pháp Sylverter

Phương pháp hô hấp nhân tạo Schaeffer

Phương pháp hô hấp nhân tạo này do Giáo sư, bác sĩ E. Charpey Schaeffer tìm ra năm 1903. Phương pháp này hiệu quả hơn phương pháp trên, dễ làm và ít mệt hơn.

Cách thực hành hô hấp nhân tạo Schaeffer:

  • Đặt nạn nhân nằm sấp trên một tấm ván, phiến đá phẳng, trên một ghế dài (bằng phẳng và chắc chắn là được), tay đưa lên phía đầu, mặt ngoảnh về một bên;
  • Chèn giữa hai hàm răng một miếng nút chai hay một miếng gỗ nhỏ có buộc dây, nhằm giữ thông đường thở trong suốt quá trình cấp cứu. (Dây buộc là phòng khi nạn nhân tỉnh lại, có thể nuốt vật chèn răng này)
  • Người cứu hộ quỳ phía sau nạn nhân, hai đầu gối tì xuống đất, hoặc ngồi nhẹ lên bắp chân nạn nhân (trong trường hợp nạn nhân nằm trên ghế) và đặt 2 bàn tay xòe trên lưng nạn nhân, phía trên khung xương chậu, hai ngón tay cái có thể giáp nhau, các ngón tay khác áp chặt vào hai bên sườn của nạn nhân, phía dưới các xương sườn cụt một chút, đừng để tay tì lên gan;
  • Nhô người lên, hai tay tì mạnh lên lưng nạn nhân, với sức nặng của thân mình và đếm nhẩm trong 2 giây. Cử động này có mục đích ép bụng nạn nhân, làm cho hoành cách mô bị đẩy mạnh lên cao, ép buồng phổi lại, tống khí độc ra ngoài. Đếm xong lại từ từ trở lại tư thế đầu. Khi buông ra, hoành cách mô hạ xuống, phổi nới rộng, khí trong lành tràn vào. Cứ tiếp tục như trên (từ 15 đến 20 lần trong một phút) cho phù hợp với nhịp thở bình thường của mình (THỞ RA ấn xuống, HÍT VÀO ngả người ra sau);
  • Khi nạn nhân đã dần dần hồi tỉnh, đã thoi thóp thở, vẫn phải tiếp tục cấp cứu. Nhưng phải để ý, khi nạn nhân hít vào, phải nhấc hẳn tay ra để nạn nhân thở dễ dàng.

hô hấp nhân tạo

Cách hô hấp nhân tạo Schaeffer

Phương pháp hô hấp nhân tạo Nielsen

Hô hấp nhân tạo

  1. Thở ra

Cấp cứu viên đặt hai bàn tay lên lưng nạn nhân: hai ngón tay cái đụng vào nhau, căn sao cho bàn tay ở dưới đường vòng ngực (đường chạy giữa nách nạn nhân), hai cánh tay giang thẳng ra, rồi nghiêng mình về phía trước gây áp lực mạnh trên lưng nạn nhân, rồi buông ra từ từ (từ 2-3giây).

  1. Hít vào
  • Cấp cứu viên lui mình mình về phía sau, lướt bàn tay trên cánh tay nạn nhân. Nắm hai cánh tay của nạn nhân trên khuỷu tay (cùi chỏ) rồi kéo về phía mình (giữ y như vậy khoảng 2-3 giây), kế đó đặt hai tay nạn nhân xuống đất. Như vậy là hết trọn một chu kỳ thở ra hít vào.
  • Cấp cứu viên cần tính mỗi phút làm 12 chu kỳ như vậy là đạt yêu cầu. Ở trẻ em, làm 14 đến 16 lần trong một phút, vì trẻ em thở nhanh hơn người lớn.
  • Nên tùy vào nạn nhân lớn hay nhỏ mà gây áp lực lên lưng mạnh hay nhẹ.

hô hấp nhân tạo

Cách hô hấp nhân tạo theo Neilsen

Phương pháp hô hấp nhân tạo “Hà hơi thổi ngạt” kết hợp “Ấn tim ngoài lồng ngực”

Phương pháp dân gian này có ở nhiều nơi trên thế giới, đã được áp dụng từ trước thế kỷ 18. Phương pháp này có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi.

Nhưng lưu ý là phương pháp này có thể không vệ sinh (vì có thể trực tiếp lây các bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp) và không thể thực hiện được khi nạn nhân có vết thương ở các nơi như: cổ, miệng, ngực, xương sườn, cột sống…

hô hấp nhân tạo

hô hấp nhân tạo

Cách thực hành hô hấp nhân tạo Hà hơi thổi ngạt kết hợp ấn tim ngoài lồng ngực

Cách thực hành hô hấp nhân tạo:

  • Đặt nạn nhân nằm ngửa, dùng ngón tay làm sạch miệng và cổ họng nạn nhân, móc hết ngoại vật và đờm dãi ra, kéo lưỡi để không bít cuống họng;
  • Người cứu hộ quỳ gối trước mặt bên đầu nạn nhân, lòn một tay dưới cổ để nâng đầu lên. Sau đó đặt ngón tay cái vào góc miệng và kéo hàm dưới vừa nhấc lên cao. Tay trái đẩy đỉnh đầu nạn nhân ngửa ra phía. Có thể chêm dưới bả vai gối cao hoặc mềm cuộn tròn.
  • Dùng ngón cái và ngón trỏ của bàn tay trái bịt chặt mũi nạn nhân lại.
  • Người cứu hộ hít sâu không khí vào và áp miệng mình thổi vào miệng nạn nhân cho đến khi thấy lồng ngực nạn nhân nhô lên, khoảng 5 giây;
  • Khi lồng ngực nhô lên cao, ta lấy miệng ra để không khí từ phổi thoát ra ngoài.
  • Sau đó ggười cứu hộ đặt hai bàn tay, khoảng 1/3 dưới, chồng lên nhau trên xương ức của nạn nhân, quỳ gối, hai cánh tay thẳng. Vai – cánh tay – bàn tay hợp với nhau thành một đoạn thẳng vuông góc với lồng ngực của nạn nhân (Xem hình…)
  • Ép mạnh lồng ngực bằng sức nặng của cơ thể cấp cứu viên xuống xương ức của nạn nhân, làm cho xương ức cùng lồng ngực của nạn nhân bị lún xuống khoảng từ 2-3 cm;
  • Mỗi đợt ấn là 15 cái trong 10 giây.
  • Như vậy cứ mỗi 15 giây, cấp cứu viên sẽ thực hiện một chu kỳ gồm 2 hơi thổi và 15 cái ấn tim. Tiếp tục thực hiện thêm 3 chu kỳ nữa rồi kiểm tra nạn nhân trở lại. Nếu nạn nhân chưa hồi phục, cứ kiên trì hô hấp và cứ sau vài phút sẽ kiểm tra lại một lần.
  • Nếu có hai cấp cứu viên thì cũng làm thao tác giống như trên, nhưng chỉ thổi 1 hơi (phải thổi tương đối mạnh). Thổi từ 10 đến 12 lần trong1 phút. Còn người thứ hai thì quỳ đối diện để làm thao tác ấn tim. Tư thế và độ sâu ấn tim giống như trên, nhưng lưu ý là trong khi người này ấn tim thì người kia buông ngón tay bịt mũi nạn nhân ra.
  • Ấn tim phải đều và nhịp nhàng, khoảng 60 đến 80 lần trong một phút xen kẽ với việc thổi. Tức là, cứ mỗi lần thổi là 5 lần ấn tim (ấn tim thì không thổi và ngược lại, thổi thì không ấn tim). Sau mỗi lần ấn tim, nhấc nhẹ tay lên cho lồng ngực trở lại vị trí bình thường.

Một số lưu ý quan trọng khi thực hành hô hấp nhân tạo:

Hoạt động sơ cứu này cần thực hiện ngay, chính xác và đúng quy trình, vì thế, người cứu hộ cần thực tập trước đó nhiều lần cho thật nhuần nhuyễn. Trong khi thực hiện, cần lưu ý:

  • Không hoảng hốt, phải kiên nhẫn cấp cứu, nếu cảm thấy còn có hy vọng cứu sống nạn nhân. Nếu thấy các phần môi, vai, lưng, bụng, ngón tay… bị bầm tím thì đành chịu, coi như hết hy vọng cứu sống. Không cần hô hấp nữa, vô ích;
  • Nếu có nhiều người đứng xung quanh, hãy nhờ họ cùng hỗ trợ nạn nhân như cởi quần áo, xoa bóp và đắp ấm cho nạn nhân nhưng vẫn phải tiếp tục việc hô hấp như thường;
  • Không nên cho nạn nhân uống nước, chỉ khi nào nạn nhận có dấu hiệu tỏ ra đã được cứu sống thì có thể cho uống một chút nước nóng, nhưng phải thật từ từ. Tuyệt đối không được cho nạn nhân uống rượu;
  • Nhờ người đi gọi ngay cấp cứu hoặc bác sĩ càng sớm càng tốt.

Từ khóa: hô hấp nhân tạo, Cách hô hấp nhân tạo, thực hành hô hấp nhân tạo

Victor Nguyen

Victor Nguyen

Tôi là Victor Nguyen, tôi rất coi trọng sức khỏe cá nhân và cộng đồng. Liên hệ với tôi qua email: khansidranoor@gmail.com - fb: facebook.com/victornguyen99

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *